Hiển thị các bài đăng có nhãn gia co phieu otc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn gia co phieu otc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

Định giá cổ phiếu OTC

Các cặp khái niệm về giá trị
Giá trị thanh lý và giá trị hoạt động
Cặp khái niệm này dùng để chỉ giá trị của doanh nghiệp dưới hai giác độ khác nhau. Giá trị thanh lý (liquidation value) là giá trị hay số tiền thu được khi bán doanh nghiệp hay tài sảnkhông còn tiếp tục hoạt động nữa. Giá trị hoạt động (going-concern value) là giá trị hay số
tiền thu được khi bán doanh nghiệp vẫn còn tiếp tục hoạt động. Hai loại giá trị này ít khi nào bằng nhau, thậm chí giá trị thanh lý đôi khi còn cao hơn cả giá trị hoạt động.

Giá trị sổ sách và giá trị thị trường
Khi nói giá trị sổ sách (book value), người ta có thể đề cập đến giá trị sổ sách của một tài sản hoặc giá trị sổ sách của một doanh nghiệp. Giá trị sổ sách của tài sản tức là giá trị kế toán của tài sản đó, nó bằng chi phí mua sắm tài sản trừ đi phần khấu hao tích lũy của tài sản đó. Giá trị sổ sách của doanh nghiệp hay công ty tức là giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp trừ đi giá trị các khoản nợ phải trả và giá trị cổ phiếu ưu đãi được liệt kê trên bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp. Giá trị thị trường (market value) là giá của tài sản hoặc doanh nghiệp được giao dịch trên thị trường. Nhìn chung, giá trị thị trường của doanh nghiệp thường cao hơn giá trị thanh lý và giá trị hoạt động của nó.
Giá trị thị trường và giá trị lý thuyết
Cặp giá trị này thường dùng để chỉ giá trị của chứng khoán, tức là giá trị của các loại tài sản tài chính. Giá trị thị trường (market value) của một chứng khoán tức là giá trị của chứng khoán đó khi nó được giao dịch mua bán trên thị trường. Giá trị lý thuyết (intrinsic value) của một chứng khoán là giá trị mà chứng khoán đó nên có dựa trên những yếu có liên quan khi định giá chứng khoán đó. Nói khác đi, giá trị lý thuyết của một chứng khoán tức là giá trị kinh tế của nó và trong điều kiện thị trường hiệu quả thì giá cả thị trường của chứng khoán sẽ phản ánh gần đúng giá trị lý thuyết của nó.
Định giá cổ phiếu OTC ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu mà công ty phát hành cam kết trả tỷ lệ cổ tức cố định hàng năm và không có tuyên bố ngày đáo hạn. Rõ ràng loại cổ phiếu này có những tính chất giống 2
như trái phiếu vĩnh cửu. Do đó, mô hình định giá trái phiếu vĩnh cửu có thể áp dụng để định giá cổ phiếu ưu đãi. Giá cổ phiếu OTC ưu đãi được xác định theo công thức sau: V = Dp/kp , trong đó Dp là cổ tức hàng năm của cổ phiếu ưu đãi và kp là tỷ suất chiết khấu thích hợp. Giả sử REE phát hành cổ phiếu ưu đãi mệnh giá 100$ trả cổ tức 9% và nhà đầu tư đòi hỏi tỷ suất lợi nhuận 14% khi mua cổ phiếu này, giá cổ phiếu này sẽ là: V = $9/0,14 = 64,29$
Định giá cổ phiếu OTC thường

Ý tưởng chung


Cổ phiếu thường là chứng nhận đầu tư vào công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu thường được chia lợi nhuận hàng năm từ kết quả hoạt động của công ty và được sở hữu một phần giá trị công ty tương ứng với giá trị cổ phiếu họ đang nắm giữ. Khi định giá trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi chúng ta thấy rằng giá trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi chính là hiện giá của dòng tiền tệ thu nhập tạo ra cho nhà đầu tư. Tương tự, giá cổ phiếu thường cũng được xem như là hiện giá dòng tiền tệ thu nhập tạo ra cho nhà đầu tư từ cổ phiếu thường. Do đó, mô hình định giá cổ phiếu OTC thường nói chung có dạng như sau: Trong đó Dt là cổ tức được chia ở thời kỳ t và ke là tỷ suất lợi nhuận đòi hỏi của nhà đầu tư. Tuy nhiên mô hình này chỉ phù hợp với tình huống nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ mãi mãi để hưởng cổ tức. Nếu nhà đầu tư mua cổ phiếu và chỉ giữ nó 2 năm sau đó bán lại với giá là P2, thì giá cổ phiếu sẽ là:
Mô hình chiết khấu cổ tức
Phương pháp định giá cổ phiếu theo tỷ số PE (Price-Earnings ratio)

Phương pháp này đưa ra cách tính giá cổ phiếu rất đơn giản bằng cách lấy lợi nhuận kỳ vọng trên mỗi cổ phiếu nhân với tỷ số PE bình quân của ngành. Ví dụ một công ty kỳ vọng sẽ kiếm được lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu là 3$ trong năm tới và tỷ số PE bình quân của ngành là 15 thì giá cổ phiếu sẽ là:
V = (Lợi nhuận kỳ vọng trên cổ phiếu) x (Tỷ số PE bình quân ngành) = 3$ x 15 = 45$
Phương pháp này đơn giản, dễ áp dụng nhưng có nhiều hạn chế. Thứ nhất việc định giá cổ phiếu thường không chính xác do phải phụ thuộc vào việc ước lượng lợi nhuận kỳ vọng trên cổ phiếu. Thứ hai, làm thế nào để chọn được tỷ số PE phù hợp và liệu nhà đầu tư có tin tưởng vào tỷ số PE bình quân của ngành hay không, nếu có thì vẫn còn sai số giữa tỷ số PE của ngành và PE của công ty.
Lợi suất cổ phiếu

Cổ phiếu ưu đãi

Nếu thay giá thị trường hiện tại (P0) cho giá trị lý thuyết (V) trong công thức tính giá trị lý thuyết của cổ phiếu ưu đãi chúng ta có được:
P0 = Dp/kp
Trong đó Dp là cổ tức của cổ phiếu ưu đãi và kp là lợi suất đòi hỏi khi đầu tư cổ phiếu ưu đãi.
Từ công thức cho phép chúng ta giải tìm lợi suất cổ phiếu ưu đãi là:
kp = Dp/P0
Ví dụ giá thị trường hiện tại của cổ phiếu ưu đãi có mệnh giá là 100$ trả cổ tức 10% là 91,25$. Lợi suất đầu tư cổ phiếu này là: kp = (100 x 10%)/91,25 = 10,96%.
Cổ phiếu thường

Tương tự như trong trường hợp cổ phiếu ưu đãi, chúng ta cũng thay thế giá trị lý thuyết (V) trong công thức bằng giá trị thị trường hiện tại (P0) chúng ta sẽ có được:
P0 = D1/(ke – g)
Từ công thức có thể giải để tìm lợi suất đầu tư cổ phiếu thường (ke):
ke = D1/(P0 + g)
Việc ứng dụng mô hình chiết khấu cổ tức như vừa trình bày trên đây để xác định lợi suất của cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thông thường có ý nghĩa rất lớn. Nó cho phép chúng ta xác định được chi phí sử dụng hai loại nguồn vốn này từ việc phát hành cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thông thường. Dựa vào chi phí sử dụng của từng bộ phận vốn này, chúng ta có thể xác định chi phí sử dụng vốn trung bình (WACC) để làm cơ sở cho việc hoạch định đầu tư vốn.


Xem chi tiết tại http://muabanotc.com

Khái niệm gia co phieu OTC

Với mỗi biến động của thị trường, tâm lý nhà đầu tư sẽ được phản ánh ngay vào thị giá. Mệnh giá là giá trị danh nghĩa, một con số ước lệ quy định vào thời điểm ban đầu của quy trình công ty cổ phần chào bán ra công chúng.
Theo Điều 10, Luật Chứng khoán, mệnh giá cổ phiếu chào bán ra công chúng là 10.000 đồng Việt Nam. Khi công ty đã có mặt trên sàn, không mấy ai quan tâm đến giá bán đó nữa. Thị giá được hiểu là giá thị trường, giá mà nhà đầu tư phải trả nếu muốn mua hoặc nhà đầu tư được hưởng nếu muốn bán.
Thị giá luôn biến động và phản ánh cán cân cung cầu trên thị trường. Thị giá không có ý nghĩa nhiều với đầu tư dài hạn. Mỗi biến động của thị trường (thông tin tốt xấu), tâm lý nhà đầu tư sẽ được phản ánh ngay vào thị giá.
Giá trị nội tại (hay còn được gọi là giá trị thực) là giá trị phản ánh thực trạng của doanh nghiệp đó. Giá trị nội tại ít biến động hơn thị giá, nhà đầu tư không thể nhìn thấy giá trị này dễ dàng như đối với mệnh giá hay thị giá. Giá trị nội tại thể hiện sức khoẻ của doanh nghiệp, là cơ sở kinh tế của thị giá. Việc xác định giá trị nội tại dựa trên phân tích các số liệu cơ bản về một doanh nghiệp, trong đó yếu tố tài sản vô hình là một biến số rất khó có thể tính toán, không thể tính chính xác được, hoàn toàn chỉ là ước định tương đối.
Để có một quyết định tối ưu nhất, nhà đầu tư cần phối hợp với các thông tin, thông số và ước đoán khác. Giá trị nội tại là căn cứ duy nhất để ra quyết định đầu tư. Cần phải bổ sung thêm các yếu tố phân tích khác. Về mặt lý thuyết, nếu thị giá thấp hơn giá trị nội tại thì nhà đầu tư nên mua vào, nếu thị giá cao hơn giá trị nội tại thì nhà đầu tư nên bán ra.
Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết nhằm giúp các nhà đầu tư nghiệp dư hiểu thêm về các khái niệm, chúng tôi xin chưa đề cập đến cách để xác định giá trị nội tại, mức thị giá thấp hơn giá trị nội tại là bao nhiêu để mua vào, hay mức thị giá cao hơn giá trị nội tại là bao nhiêu để bán ra. Để biết thêm chi tiết, nhà đầu tư có thể tham khảo tư vấn của Gia co phieu OTC.
Xem chi tiết tại: http://muabanotc.com

Vì sao gia co phieu OTC tăng?

Vì sao các cổ phiếu tăng giá?

Có hàng ngàn lý do để gia co phieu OTC tăng, tuy nhiên ở đây chỉ điểm ra 4 lý do chung để cổ phiếu tăng giá, qua đó giúp nhà đầu tư đi tìm cho mình những phương pháp cách để tìm kiếm những “ý tưởng” đầu tư hiệu quả.

Trả lời được câu hỏi này nhà đầu tư có thể kiếm được tiền trên thị trường vì suy cho cùng đa số chúng ta tham gia vào TTCK là mong hưởng lợi từ sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán hơn là mua cổ phiếu để kỳ vọng nhận cổ tức. Vì nếu chỉ để nhận cổ tức, chắc khó có nhà đầu tư nào lại đi mua CTD với giá 200 chỉ để nhận 5-6.000đồng/cp cổ tức mỗi năm.
Vì vậy lợi nhuận mà chúng ta có là do người đến sau chấp nhận trả cao hơn so với giá mà trước đó chúng ta mua vào. Giá bạn mua không quan trọng bằng giá mà người đến sau chấp nhận trả cho bạn. Chỉ có hiểu được nguyên lý vì sao người khác lại chấp nhận trả giá cao cho cổ phiếu mà bạn đang nắm giữ thì chúng ta mới có khả năng kiếm được tiền trên thị trường.
Có hàng ngàn lý do để gia co phieu OTC tăng, tuy nhiên ở đây chỉ điểm ra 4 lý do chung để cổ phiếu tăng giá, qua đó giúp nhà đầu tư đi tìm cho mình những phương pháp cách để tìm kiếm những “ý tưởng” đầu tư hiệu quả.
Do thị trường chung tăng
Thị trường chung là một “khái niệm” thường được dùng để chỉ những loại chỉ số phổ biến nhất (ở Việt Nam là chỉ số VnIndex). Chỉ số này cho bạn biết mức độ mạnh hay yếu của các hoạt động giao dịch hàng ngày.
Việc nhận ra thị trường đang trong giai đoạn nào theo William Oneil – người được mệnh danh là phù thuỷ “phố Wall” quyết định đến 50% thành công, và ông cũng cho rằng thật khó khăn khi bạn “lội ngược dòng” thị trường chung.
Trong một thị trường uptrend tăng mạnh, đa số nhà đầu tư đều cảm thấy dễ kiếm ăn (easy-money) vì các cổ phiếu có xu hướng đồng loạt tăng cùng chiều với thị trường chung. Sóng các ngành tăng đồng pha như sóng dòng thép, dòng ngân hàng, dòng chứng khoán…và khi mua các cổ phiếu theo các dòng dẫn sóng trong thị trường chung thuận lợi các nhà đầu tư đều thu được một khoản lợi nhuận vì khi đó thị trường đang cho rằng dòng đó đang dẫn sóng và hút được dòng tiền và họ sẽ sẵn sàng trả giá cao cho người mua trước đó để đón đầu xu hướng.
Do đội lái
Nhiều cổ phiếu được đưa lên sàn với nhiều mục đích khác nhau, và mục đích “lái” cổ phiếu lên có những lý do riêng của những nhà tạo lập. Có những cổ phiếu lớn có thương hiệu để đảm bảo “danh tiếng” của họ trên thị trường thì việc IPO không thể thất bại bằng việc cổ phiếu giảm hay nằm sàn được, mà thường phải tăng trần mấy phiên chào sàn.
Hay đơn giản là những cổ phiếu lái lên để đảm bảo việc phát hành thêm cho đối tác chiến lược thành công, lái cổ phiếu lên để thế chấp vay vốn ngân hàng, lái cổ phiếu lên để lướt sóng chính cổ phiếu của mình và thu tiền từ thị trường.
Và chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những phát ngôn của lãnh đạo trên truyền thông khi cho rằng: “chuỗi ngày cổ phiếu dưới mệnh sẽ chấm dứt”, “cổ phiếu chúng tôi đang dưới giá trị và không có giá dưới 3x”…và cứ như vậy đúng là các cổ phiếu này sau đó đều tăng thật
Nhiều người quan niệm rằng: cổ phiếu chỉ có lái mới lên được, chứ chúng ta không nên mua để chờ thị trường nhận ra nó tốt, trên thị trường đầy những cổ phiếu tốt nhưng tại sao không lên nên nhiều nhà đầu cơ trên thị trường có xu hướng đọc “game”, đọc “vị” lái để men theo đó kiếm ăn.
Do tin nội bộ
Chúng ta cũng biết các trường hợp rò rỉ thông tin nội bộ về kết quả kinh doanh sắp công bố, hay lãnh đạo sắp mua vào, hay cổ phiếu chuẩn bị được vào rổ ETF, hay sắp ký dự án “khủng”…
Nhiều người trên thị trường cũng chưa kịp hiểu vì sao cổ phiếu của mình lại tăng giá chóng mặt đến như vậy cho đến khi thông tin công bố họ mới nhận ra là trước đó nhiều người tích cực gom cổ phiếu đển đón đầu thông tin này.
Trên thị trường có nhiều trường phái đánh theo tin nội bộ, nhưng việc đánh theo tin nội bộ đúng 10 lần thì niềm tin lần thứ 11 thường rất lớn và có thể dẫn đến “tất tay” trong một cổ phiếu, đôi khi rất có thể người ra tin không cố ý đưa tin sai mà chính họ cũng là “nạn nhân” của những game lừa đảo.
Do kỳ vọng tăng trưởng dựa trên yếu tố cơ bản của doanh nghiệp
Vì sao VEF tăng giá gấp 7,5 lần trong chưa đầy 6 tháng, lên sàn Upcom từ cuối năm 2015 với giá khởi điểm 10.100 đồng/cp, tính đến ngày 29/3 thị giá VEF lên đã lên tới 75.000 đồng/cp (gấp 7,5 lần)
Lý giải cho điều này là do VEF đang nắm giữ một khối lượng tài sản khổng lồ và giá trị tài sản đó chưa thể hiện được so với vốn hoá thị trường của VEF tại thời điểm 10.100 đ/cp, theo đó VEF nắm quyền quản lý khai thác khu đất vàng rộng gần 7 ha tại 148 Giảng Võ, 4 nhà trưng bày với tổng diện tích gần 10.000 m2, 3 nhà hội thảo cùng hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh.
Đây là dạng cổ phiếu thuộc “Asset Play” theo định nghĩa của nhà đầu tư huyền thoại Peter Lynch.
Ngoài ra có những cổ phiếu tài sản “ngầm” rất ít và gần như không có, thị giá trên book value cao rất nhiều lần nhưng do nhà đầu tư kỳ vọng vào tốc độ tăng trưởng, khả năng tạo ra thu nhập trong tương lai của doanh nghiệp đó mà háo hức mua vào khiến gia co phieu OTC tăng cao.
Bạn có nghĩ vì sao cổ phiếu như Facebook chỉ là một trang mạng xã hội lại có thời điểm được định giá PE = 100, đồng nghĩa với việc nhà đầu tư chấp nhận “ứng trước” 100 năm lợi nhuận trong tương lai của Facebook khi mua với giá hiện tại?
Đó là do nhà đầu tư đánh giá khả năng tăng trưởng của nhà mạng xã hội lớn nhất hành tinh này, nên “betting on the future” – đặt cược vào tương lai của doanh nghiệp.
Điều này cũng lý giải cho việc vì sao những cổ phiếu PE cao, giá lại thường còn tiếp tục cao hơn vì triển vọng tương lai của chúng sáng sủa, chúng thuộc loại “fast growers”, chính sự tăng trưởng sẽ rút ngắn lại giá trong tương lai so với mức giá hiện tại, trong khi đó những cổ phiếu PE thấp, cổ tức cao, chỉ số tài chính đẹp nhưng chúng lại không hề được tăng giá bởi nó không đem đến cho các cổ đông sự kỳ vọng về tương lai có thể do ngành nghề khó phát triển, giá sản phẩm giảm, khó án, quy mô sản xuất bị thu hẹp hay ngành nghề đang bị bão hoà.
Vì sao VNM lại tăng giá 28 lần trong 6 năm qua vì tổng lợi nhuận VNM làm ra trong 6 năm cho cổ đông là gần 40.000 tỷ đồng, trong khi cách đây 6 năm vốn hoá thị trường của VNM chỉ có 7.000 tỷ đồng. Đó chính là lý do khiến VNM tăng giá 28 lần (chưa kể cổ tức) trong vòng 6 năm.
Mỗi hiện tượng tăng giá cổ phiếu mà chúng ta có thể nhìn thấy được đều ẩn chứa câu chuyện tăng trưởng doanh nghiệp đằng sau. Nhiệm vụ của những nhà đầu tư là phải đánh giá và định lượng tốt các “yếu tố” thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai, như việc xây nhà máy mới, tung ra sản phẩm mới, mở rộng thị trường mới …. để có thể đón đầu cơ hội mua vào “sớm” những cổ phiếu này.
Như trong trường hợp VNM, doanh nghiệp tăng 1.000 tỷ đồng nguyên giá tài sản cố định từ 3.131 tỷ lên 4.313 tỷ đồng vào năm 2010, làm cho doanh thu tăng thêm 5.000 tỷ và lợi nhuận tăng thêm 1.200 tỷ đồng trong năm đó.
Tiếp tục năm 2012, nguyên giá tài sản cố định tăng thêm 1.200 tỷ đồng, làm cho doanh thu tăng thêm 5.000 tỷ đồng và lợi nhuận tăng thêm 1.600 tỷ đồng nữa trong năm đó.
Năm 2013 VNM khánh thành nhà máy sữa ở Bình Dương, nguyên giá tài sản cố định tăng thêm 5.000 tỷ đồng, và doanh thu VNM tiếp tục tăng thêm 5.000 tỷ và lãi thêm gần 1.000 tỷ cũng trong năm đó
Ngoài các yếu tố như sản phẩm có thế dễ dàng tăng giá bán, có thể chuyển chi phí sang cho người dùng, thì không thể phủ nhận VNM liên tục nâng capex của mình để mở đường tăng trưởng cho doanh thu và lợi nhuận sau này. Quá trình đầu tư liên tục nhưng VNM không hề tăng vốn bằng phát hành thêm bắt cổ đông nộp tiền (mà chỉ có chi trả cổ phiếu thưởng từ thặng dư để lại), mặc dù TSCĐ tăng mạnh nhưng tồn kho không tăng đáng kể, các khoản phải thu cũng gần như không tăng, sản phẩm được tiêu thụ khá tốt.
Xem chi tiết: Gia co phieu OTC

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

Thị trường mua bán cổ phiếu T6/2017

(ĐTCK) Theo Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), tuy chỉ số HNX-Index kết thúc tháng 6/2017 tăng 5,3% so với cuối tháng 5, nhưng tính bình quân, giá trị giao dịch đạt 658,3 tỷ đồng/phiên, giảm 3,4% so với tháng trước. (Mua bán cổ phiếu)

Trong tháng 6 vừa qua, giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tăng 2,9%, với tổng cộng 56,82 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng, tương ứng với giá trị giao dịch đạt 672,9 tỷ đồng; trong đó giao dịch mua bán cổ phiếu mua vào là 301,6 tỷ đồng, giao dịch bán ra 371,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, lũy kế 6 tháng đầu năm nay, giá trị mua ròng của khối ngoại đạt hơn 2.074 tỷ đồng.
Trong tháng 6/2017, sàn UPCoM có 33 mã cổ phiếu đăng ký giao dịch mới, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên thị trường này lên 576 doanh nghiệp.
Toàn thị trường có 252,44 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng, tương ứng với giá trị giao dịch đạt 4.064 tỷ đồng, tính bình quân, giá trị giao dịch đạt 184,75 tỷ đồng/phiên, giảm 14,3% so với tháng trước.